Công nhân tiếc nuối vì tổng thống Mỹ hủy thỏa thuận thương mại TTP

Đỗ Thị Minh Hạnh, một nhà hoạt động trong lĩnh vực quyền của người lao động, đã quen thuộc với việc bị đánh, nhập viện và bị bỏ tù vì các hoạt động của cô tại Việt Nam nơi mà công đoàn độc lập bị cấm.

Một niềm hy vọng nhen nhóm trong cô khi Việt Nam đạt được thỏa thuận thương mại tự do với Mỹ và một số nước khác mà việc tham gia hiệp định này đòi hỏi các thành viên phải tăng cường quyền lợi của người lao động và bảo vệ quyền có công đoàn độc lập.

Hy vọng đó đã bị dập tắt khi tổng thống mới, Donal Trump đã kí lệnh rút Hoa Kỳ khỏi thỏa thuận thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương TTP vào cuối tháng Giêng vừa qua.

Minh Hạnh cho rằng: “Chính phủ Việt Nam sẽ sử dụng điều này nhu một cái cớ để đàn áp các phong trào lao động. Họ không bao giờ muốn có công đoàn độc lập ở Việt Nam”

Lời hứa về quyền lao động đã trở thành những thiệt hại khi Hoa Kỳ được điều hành bởi tổng thống Trump. Với tư cách là tân Tổng thống, ông Trump có thể từ bỏ các cam kết mà Hoa Kỳ đã hứa hẹn với các nước khác để bảo vệ quyền lợi người lao động và môi trường.

Các nhà phân tích về lao động và bảo vệ môi trường trong T.P.P. và các hiệp định thương mại khác cho rằng họ là TPP là một kế hoạch chính trị đã không thể thực hiện được. Tuy nhiên, cuộc rút lui trong hiệp định thương mại này của Mỹ có thể cho phép các nước như Trung Quốc, vốn là các quốc gia không sử dụng điều khoản kinh tế để khuyến khích các vấn đề đạo đức và quyền con người, thiết lập các điều khoản của thương mại toàn cầu.

Ví dụ, Mỹ rút khỏi T.P.P. mở đường cho Trung Quốc thúc đẩy thỏa thuận tự do thương mại tự do của châu Á, hiệp định đối tác toàn diện vùng. Theo Rajiv Biswas, kinh tế gia trưởng Châu Á Thái Bình Dương tại tổ chức IHS Global Insight cho rằng những thỏa thuận của Trung Quốc không có tham vọng và không bao gồm các cải cách lớn đối với các tiêu chuẩn bảo hộ lao động”.

Các nhà đàm phán Hoa Kỳ trong những năm gần đây đã thêm yếu tố bảo vệ người lao động và môi trường vào các điều khoản thương mại bởi vì tình trạng chống toàn cầu hóa đã tăng lên ở Hoa Kỳ. Trong 24 năm qua, Hoa Kỳ đã đạt được 13 thỏa thuận tự do thương mại bao gồm 19 quốc gia bao gồm các điều khoản về bảo vệ người lao động và môi trường. Trong hầu hết các trường hợp, các giao dịch chỉ đơn thuần yêu cầu các quốc gia phải tuân theo luật của riêng Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ các biện pháp này cho rằng nó có thể có tác động. Theo cách làm của Mỹ, Liên minh châu Âu đã bắt đầu đưa thêm các yêu cầu tương tự vào các thỏa thuận thương mại. Các nhà thương thuyết Mỹ cũng đã tăng cường các điều khoản của họ trong các giao dịch thương mại gần đây hơn, bao gồm cả T.P.P.

David A. Gantz, giáo sư luật tại Đại học Arizona ở Tucson, chuyên gia về các hiệp định thương mại quốc tế, nói rằng các hiệp định này có “những khả năng thực trong việc trừng phạt thương mại. Chúng có thể đã tạo ra một sự khác biệt thực sự nếu để T.P.P tiếp tục.” Ông nói thêm: “Những điều khoản này trong các hiệp định thương mại tự do của Mỹ có thể còn nhiều hơn lá sung, nhưng có một điều rất quan trọng: Chính phủ Hoa Kỳ nói riêng cần phải sẵn sàng hoạt động để thực thi chúng.”

Điều đó có thể rất khó khăn, quốc gia là đối tác của hiệp ước với Hoa Kỳ có thể phải thông qua luật mới để thực hiện, các nhóm lao động cho biết.

Sharon Waxman, chủ tịch Hiệp hội Lao động Công Bằng cho biết: “Bất kỳ thỏa thuận thương mại nào cũng phải có những điều khoản lao động mạnh mẽ để giảm thiểu cuộc chạy đua gây bần cùng hóa đời sống của người lao động. Nhưng những gì chúng tôi nhận thấy là các hiệp định thương mại thường bị xem như một sự thay thế cho luật pháp của các quốc gia để bảo vệ quyền của người lao động và đảm bảo rằng họ được đền bù công bằng”.

Trong một thỏa thuận phụ 10 trang, T.P.P. sẽ buộc Việt Nam phải hình sự hóa việc cưỡng bức lao động và mở rộng việc thực thi để áp dụng cho các trường hợp nợ nần. Về công đoàn, người lao động sẽ được phép thành lập các công đoàn cơ sở có thể mặc cả với giới chủ và tổ chức đình công. Oliver Massmann, một đối tác của công ty luật Duane Morris Việt Nam, cho biết Việt Nam đã bắt đầu soạn thảo một số thay đổi nhưng thời gian thực hiện vẫn còn chưa rõ ràng. Hiệp định thương mại riêng giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu cũng sẽ tập trung vào các điều kiện lao động khi nó có hiệu lực vào tháng Giêng, nhưng nó thiếu các biện pháp cưỡng chế thi hành mạnh mẽ hơn của hiệp định T.P.P.

Nền kinh tế Việt Nam cất cánh gần đây vì chi phí lao động của Trung Quốc đang tăng lên, khiến các chủ nhà máy tìm kiếm lao động rẻ hơn ở nơi khác. Các nhà hoạt động lao động cho biết nhiều nhà máy tại Việt Nam đã cải thiện điều kiện lao động từ  những nhà máy khai thác bóc lột công nhân trong những năm 1990. Các công ty như Nike đã áp dụng các tiêu chuẩn giám sát và tuân thủ bắt buộc đối với các nhà cung cấp ở Việt Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn gặp nhiều vấn đề về lao động. Một điều tra vào năm 2015 về ngành may mặc cho thấy hầu hết các nhà máy được kiểm tra đã đàn áp các công đoàn độc lập và không có các biện pháp đảm bảo an toàn cũng như chăm sóc sức khỏe cho công nhân.

Tại khu ngoại ô phía Bắc thành phố Hồ Chí Minh, một cuộc đình công lớn đã xảy ra tại một khu nhà xưởng rộng 914 ngàn mét vuông thuộc sở hữu của của công ty Hansae Hàn Quốc-Việt Nam chuyên làm quần áo cho các nhãn hiệu lớn của phương Tây và các nhà bán lẻ như Nike. Sau đó nhiều nhóm hoạt động về lao động  đã phải kiểm tra nhà máy nhiều lần trong năm ngoái.

Một thợ may kỳ cựu từ nhà máy này cho biết, tình hình đã được cải thiện hơn khi nhà máy lắp thêm máy lạnh. Đôi khi người lao động kệt quệ vì bị ốm, nhưng họ cũng khó lòng được quản lý cho phép nghỉ ốm. Cô ấy yêu cầu được phỏng vấn mà không sử dụng tên vì lo lắng có thể bị mất việc.

Một nhân viên kỳ cựu khác, người yêu cầu phóng viên chỉ nên họ, cô Nguyễn, nói rằng những công ty là khách hàng tại nước ngoài có thể có những quy định cải tiến tốt cho công nhân, nhưng quản lý nhà máy tại địa phương không phải lúc nào cũng tuân theo.

Nike, từng chiếm 9% sản lượng của nhà máy Hansae, đã áp đặt hình phạt và cắt giảm lượng mua sản phẩm xuống 3%. Công ty này cũng tiếp tục thảo luận các điều kiện với Hansae, một phát ngôn viên cho biết qua email, ” các vấn đề tại Hansae là phức tạp, có tính hệ thống và đòi hỏi phải kiên trì để sửa chữa.”

Công ty Hansae thừa nhận một số vấn đề nhưng được gọi là “những tin đồn” khác, đã thuê Gare Smith, luật sư của công ty luật Foley Hoag ở Washington, làm việc với nhà máy ở Việt Nam để cải tiến hệ thống khiếu nại cho người lao động.

Hiện nay các công đoàn do chính phủ kiểm soát, thường cấm các cuộc đình công và các hoạt đông phản kháng khác để tránh tình trạng bất ổn chính trị hay xã hội.  Minh Hạnh, nhà hoạt động vì người lao động cho biết cô đã rất thận trọng khi hy vọng rằng T.P.P có thể giúp đỡ hoạt động của cô bởi bì T.P.P. có một phần về công đoàn. Cô nói: “T.P.P có thể cho tôi một cơ sở pháp lý và giúp tôi thuyết phục người lao động tham gia các công đoàn độc lập dễ dàng hơn.”

Minh Hạnh, một cô gái 32 tuổi nói về việc bắt giam, đánh đập và các khẩu hiệu lao động với một nhịp điệu giống nhau. Cô kể rằng lần đầu tiên cô được đánh thức về các vấn đề lao động ở Việt Nam khi còn trẻ là khi cô ngồi cạnh một người phụ nữ làm việc tại một nhà máy điều trên xe bus. Người phụ nữ nói với cô rằng công nhân ở nhà máy đã được trả lương rất thấp nên họ phải ăn cắp các loại hạt.

Ở Việt Nam, việc tổ chức lực lượng được thực hiện một cách lặng lẽ. Để mở đường cho một cuộc đình công tại nhà máy sản xuất giày, một đồng nghiệp của Minh Hạnh đã dành hàng tuần trời để thảo luận với người lao động và xây dựng mối liên hệ. Hạnh đã viết tờ rơi và dạy một nhóm công nhân chủ chốt làm thế nào để tổ chức  đình công. Bà cho biết cuộc đình công hồi tháng 1 năm 2010  đã có 10.000 công nhân tham gia. Đó là một chiến thắng vì nó đã giúp tăng lương cho công nhân, mặc dù cô và hai đồng nghiệp khác của cô đã bị bỏ tù.

Được trả tự do bốn năm sau đó, Minh Hạnh thấy rằng việc tổ chức các công đoàn cơ sở đã trở nên khó khăn hơn  rất nhiều. Cô cho biết việc cô thường bị theo dõi khiến cho việc gặp ỡ các công nhân nhút nhát gặp khó khăn. Một trong những lần cuối cùng cô đi đến một cuộc biểu tình của công nhân, vào cuối năm 2015, cô đã bị cảnh sát đánh đập. Bây giờ, Minh Hạnh dành hầu hết thời gian để vận động trên truyền thông xã hội và khiến các công ty lớn ở Phương Tây quan tâm đến vấn đề người lao động ở Việt Nam.

Cô hoài nghi việc các quan chức địa phương sẽ tuân thủ những biện pháp bảo vệ lao động khắc nghiệt nhất ở T.P.P., và cho rằng họ sẽ cố tìm ra các sơ hở khi có cơ hội. Tuy nhiên, bản hiệp ước này có thể mang đến một công cụ để thúc đẩy các vấn đề lao động với các nhà lập pháp và các ông chủ lớn của nhà máy.

“Tôi đã có thể sử dụng điều khoản của T.P.P. trong việc sử dụng quyền thành lập các công đoàn độc lập – những công đoàn mà công ty và chính phủ không kiểm soát “, bà nói.

Bà nói thêm: “Có lẽ bây giờ bởi vì Trump, ước mơ của chúng tôi về các công đoàn độc lập ở Việt Nam vẫn chưa thành hiện thực. Nhưng chúng tôi vẫn sẽ cố gắng giúp đỡ công nhân, bởi vì nếu họ chiến đấu một mình họ sẽ không thành công.”

Phong trào lao động việt dịch từ bài viết The Workers Who Regret Trump’s Scrapping of a Trade Deal trên https://www.nytimes.com.

 

Bình luận

Was This Post Helpful:

0 votes, 0 avg. rating

Share: